Truyền thống văn hóa biển Quảng Nam

Thứ tư - 06/05/2020 22:08


TRẦN VĂN AN     

     Trong quá khứ, sự có mặt của biển đã chi phối mạnh mẽ đời sống hàng ngày của cư dân bản địa xứ Quảng, mà ngày trước có thể được gọi là Amaravati, hoặc một địa danh nào đó. Việc phát hiện vết tích các loại cá biển, rùa biển, ốc biển, sò, hầu, điệp trong di chỉ khảo cổ học Bàu Dũ (Tam Xuân, Núi Thành) cho biết cách đây 5000 – 6000 năm cư dân tiền sử bản địa đã tiếp xúc, quen thuộc với sản vật biển. Họ sử dụng chúng để làm thức ăn. Biển cũng đã quen thuộc trong đời sống của cư dân thời đại kim khí xứ Quảng với sự có mặt của vết tích động vật biển trong các di tích khảo cổ văn hóa Sa Huỳnh, sự xuất hiện phổ biến của mô tiếp trang trí hình sóng biển, xương cá hoặc in mép vỏ sò trong đồ gốm thời đại này. Tư liệu thư tịch cổ cũng cho biết rằng, bên cạnh các sản vật nổi tiếng của vùng núi, trung du như vàng, hồ tiêu, quế, trầm hương, mật ong, dầu rái, tơ tằm, đường; các loại quả bồ quân, lòn bon, mít; các loại gỗ quý kiền kiền, lim, gõ, sơn… Quảng Nam còn có những sản vật biển cũng nổi tiếng không kém. Đó là yến sào, bào ngư, vi cước cá, da cá, đồi mồi, san hô, xa cừ… Một số trong chúng đã được chú ý khai thác từ thời Champa và sau này được tiếp nối của cư dân Việt. Sách Đông Tây Dương Khảo do Trương Nhiếp, người Trung Quốc viết năm 1617 đã ghi lại sự kiện người Chiêm Thành (Champa) nắm rất rõ thời vụ và đã tiến hành khai thác yến oa (yến sào) ở các đảo ngoài khơi biển Đông. Đồi mồi, san hô của Lâm Ấp cũng đã được ghi trong danh mục các mặt hàng xuất khẩu, cống nộp từ thế kỷ VIII-IX.

     Biển là người quen của cư dân bản địa trước đó, nhưng đối với những lớp lưu dân Việt đầu tiên đặt chân đến vùng đất này vào thế kỷ XIV, XV thì biển là một người xa lạ, đầy hiểm nguy bất trắc. Trải qua quá trình chung sống, cộng cư họ dần vượt qua tâm lý sợ biển cố hữu của những người nông dân gốc từ các vùng ở châu thổ Bắc Bộ để hướng tầm nhìn ra biển, làm quen với biển. Điều này dẫn đến sự ra đời của nhiều ngành nghề chuyên về khai thác, đánh bắt hải sản, bước đầu mang tính giản đơn, thô sơ sau tiến lên quy mô, kỷ thuật. Từ thời các chúa Nguyễn làng Thanh Châu ở phủ Thăng Hoa (nay thuộc xã Cẩm Thanh, Hội An) chuyên về khai thác yến sào, không chỉ ở Quảng Nam mà cả các phủ khác từ Quảng Nam cho đến Khánh Hòa. Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục còn cho biết các chúa Nguyễn đã lập nên đội Hoàng Sa để thu lượm ốc, đồi mồi, xa cừ, hải ba ở vùng đảo Hoàng Sa, Côn Đảo… Cuộc sống vào lộng ra khơi tuy gian nan, vất vả nhưng ngày càng nhộn nhịp tại xứ Quảng với sự có mặt ngày càng nhiều các làng chài, vạn chài ven biển từ chân đèo Hải Vân (Quảng Nam – Đà Nẵng cũ) cho đến Núi Thành, Dung Quất. Trong các thế kỷ trước thì xa hơn, vào tận Bình Định, Phú Yên thuộc dinh hoặc xứ Quảng Nam cũ. Các nghề biển truyền thống như xăm, giả ruốc, giả cào, mành chốt, mành mở; lưới quát, lưới cản, nghề khơi (lưới chuồn), lờ mực; câu ống, câu giàn… ngày càng phát triển và mang đặc điểm kỹ thuật riêng không phải nơi nào cũng có. Nghề biển đã thu hút một lực lượng lớn lao động, góp phần đáng kể trong việc xây dựng và phát triển đời sống kinh tế - xã hội của xứ Quảng trước đây cũng như hiện nay. Khẩu vị của những lưu dân cũng có sự thay đổi, thích nghi dần qua quá trình tiếp xúc với biển. Từ thói quen ẩm thực “Anh đi anh nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương” họ đã dần “ghiền” các món ăn làm từ hải sản như một số loại cá, tôm, cua và đặc biệt là mắm làm từ cá biển:

“Cha mẹ ham ăn cá thu

Gả con xuống biển mù mù tăm tăm”

“Lửa gần rơm như cơm gần mắm…”

     Việc thích ứng với biển cũng như quá trình tiếp thu những kinh nghiệm chế tạo, sử dụng ghe bầu từ người Chàm đã dẫn đến sự ra đời của nghề buôn ghe bầu nổi tiếng ở xứ Quảng. Ghe bầu Quảng đã vào Nam, ra Bắc, “Phú Xuân đã trải, Đồng Nai đã từng” để thực hiện những chuyến buôn xa, dài ngày, góp phần tạo nên sự nhộn nhịp của các thị tứ ven biển Quảng Nam, miền Trung nói riêng, cả nước nói chung trong các thế kỷ trước đây.

     Biển cũng đã mang lại cho xứ Quảng, Đàng Trong những loại chiến thuyền và những đội thuyền chiến hùng hậu cũng như các chiến binh giỏi giang về hải chiến. Truyền thống này định hình từ thời Champa và được kế thừa hữu hiệu dưới thời Đại Việt. Các đội thuyền chiến của chúa Nguyễn ở Đàng Trong được người ngoại quốc đánh giá là hùng hậu không kém bất cứ hạm đội nào của các cường quốc hàng hải phương Tây. Có lẽ cũng chính do biết vận dụng những kinh nghiệm, những phương tiện hải chiến của người Chăm mà Công Thượng Vương Nguyễn Phúc Tần, khi còn là Trấn thủ Quảng Nam, người có quê mẹ ở Chiêm Sơn, Trà Kiệu (nơi từng là kinh đô có nhiều người Chàm tập trung sinh sống) đã oanh liệt đánh bại các chiến thuyền Hoà Lan xâm phạm hải phận Đàng Trong năm 1643. Và các đoàn thuyền chiến, thuyền lương hùng hậu của Quảng Nam cũng đã thần tốc cùng bộ binh của người anh hùng áo vải Tây Sơn ra Thăng Long đập tan dã tâm xâm lược của quân Thanh năm 1789.

     Sự chi phối của biển cũng đã ghi dấu khá đậm nét trên nhiều lĩnh vực đời sống văn hóa tinh thần của cư dân xứ Quảng. Về ngôn từ, nhiều từ chỉ sự vật, hiện tượng, hoạt động liên quan đến biển đã đi vào lờiăn tiếng nói của người dân địa phương. Đó là hệ thống cáctừ chỉ hoạt động ngành nghề trên biển, hệ thống từ chỉ sản vật biển, đặc biệt là tên gọi các loại cá, hệ thống từ chỉ các hiện tượng địa lý - tự nhiên biển, thói quen sử dụng các từ liên quan đến biển để diễn tả mức độ tình cảm, sắc thái ngữ nghĩa… Một số địa danh tại chỗ cũng đã nói lên sự có mặt của biển như Cẩm Hải, Phước Hải (Hội An), Duy Hải (Duy Xuyên), Tam Hải (Núi Thành), Điện Dương (Điện Bàn), Bình Dương (Thăng Bình)… Nhiềuđơn vị ca dao, hò vè, truyện kể và nhiều hình thức tín ngưỡng thờ tự có gốc gác từ các hiện tượng, sự vật biển.

     Truyền thống biển còn được thể hiện ở kỹ năng thực hành của đội ngũ ngư dân từng trải về khai thác, đánh bắt trên biển, của lực lượng thuỷ thủ, tài công ghe bầu giỏi giang, của những thuỷ binh thiện chiến trên biển, những người thợ đóng xảm tàu thuyền thiện nghệ. Chính vì vậy mà các vương triều phong kiến từ các chúa Nguyễn đến Tây Sơn, triều Nguyễn đều chọn Quảng Nam là nơi tuyển binh lính, nhân công để phục vụ trên các đội hải thuyền, trong các công xưởng đóng tàu, xảm trét tàu thuyền…

     Như vậy, có thể thấy truyền thống biển hay nói đầy đủ hơn là truyền thống tương tác, thích nghi, khai thác biển đảo tại xứ Quảng đã trải qua bề dày bồi đắp, tích tụ nhiều ngàn năm và được thể hiện đa dạng, sâu sắc trên nhiều lĩnh vực thuộc đời sống, vật chất cũng như tinh thần của cư dân địa phương, tạo thành một bản sắc văn hoá rõ nét. Vì vậy khi nói đến văn hóa Quảng Nam nhất định phải xem xét tường tận, thấu đáo vấn đề văn hóa biển tại chỗ cũng như vai trò của văn hóa Quảng Nam trong quá trình định hình nên truyền thống văn hóa biển của Đàng Trong, Việt Nam.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Sự kiện tiêu biểu
« tháng 11/2020 »
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
26272829303101
01020304050607
08091011121314
15161718192021
22232425262728
29300102030405
Thống kê
  • Đang truy cập4
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm3
  • Hôm nay529
  • Tháng hiện tại11,807
  • Tổng lượt truy cập751,039
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây