Suối nguồn Ngọc Linh trong đời sống người Xơ Đăng

Thứ sáu - 29/05/2020 10:29
Máng nước của đồng bào Xơ Đăng trên núi Ngọc Linh
Máng nước của đồng bào Xơ Đăng trên núi Ngọc Linh

     Người Xơ Đăng là tộc người thiểu số bao gồm 5 nhóm địa phương chính: Xơ Teng, Tơ Đrá, Mơ Nâm, Ca Dong và Hà Lăng, cư trú tập trung ở tỉnh Kon Tum, huyện Bắc Trà My, Nam Trà My tỉnh Quảng Nam. Một bộ phận nhỏ sinh sống ở huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi, huyện Chư M’ngar, Krông Pách tỉnh Đăk Lăk. Trong quá trình hình thành và phát triển, dân tộc Xơ Đăng còn bảo lưu được các giá trị văn hóa truyền thống bắt nguồn từ cuộc sống gắn bó với thiên nhiên như núi rừng, sông suối, cây cỏ...Núi thiêng Ngọc Linh giúp cho đồng bào Xơ Đăng có nguồn nước dồi dào cho sinh hoạt hàng ngày, dẫn nước về đồng ruộng để trồng lúa, chăn nuôi gia súc, đảm bảo cái ăn cái mặc, sự tồn tại và phát triển của con người và sáng tạo nên các giá trị văn hóa, tinh thần mang đậm bản sắc dân tộc.

     Người Xơ Đăng sinh sống trên hệ núi Ngọc Linh từ rất lâu đời đã tích luỹ nhiều kinh nghiệm trong việc làm ruộng bậc thang. Để làm ruộng bậc thang, đồng bào thường chọn những sườn núi có độ dốc vừa phải, không có nhiều hốc đá và đặc biệt là gần khe suối để dẫn nước về tưới ruộng. Nếu canh tác nương rẫy thì đòi hỏi "mưa thuận gió hoà" còn làm ruộng bậc thang chỉ cần có đủ nước là có thể duy trì mùa màng. Bởi vì nước là yếu tố quyết định để làm ruộng bậc thang. Nước từ các khe suối trên núi Ngọc Linh theo các ống tre hay các đường mương được đồng bào dẫn vào thửa ruộng cao nhất và từ đó chúng phân bố đều cho các thửa ruộng phía dưới. Đến các bản làng của họ, ta thường thấy những thửa ruộng bậc thang xếp từ chân núi lên đến các sườn núi. Từng bậc, từng bậc ôm lấy sườn núi, gối vào nhau từ thấp lên cao trông như những nấc thang nên gọi là ruộng bậc thang. Ruộng bậc thang chẳng những mang lại cho đồng bào lúa gạo đủ ăn quanh năm, tự túc được lương thực mà còn vẽ nên một bức tranh đa sắc vừa kỳ vĩ vừa thơ mộng. Đó là những bức tranh tuyệt tác mà tự bản thân nó đã ca ngợi bàn tay lao động của con người, họ biết dựa vào thiên nhiên, hoà mình với thiên nhiên, duy trì cuộc sống ở những nơi thâm sơn cùng cốc.

     Nước gắn với đời sống tâm linh, lễ hội truyền thống của đồng bào Xơ Đăng. Lễ cúng máng nước của đồng bào Xơ Đăng trên núi Ngọc Linh cũng thường diễn ra sau mùa thu hoạch lúa rẫy và bắt đầu vào vụ mùa mới. Đối với đồng bào miền núi, nước là một yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống sinh hoạt và sản xuất. Khi chọn đất để lập làng thì điều đầu tiên người ta phải đi tìm nguồn nước để đảm bảo cho cuộc sống của dân làng. Mỗi làng đều có nguồn nước sạch để dùng chung. Những khe suối đầu nguồn được chọn để lấy nước sinh hoạt và sản xuất, chăn nuôi. Đặc biệt, nguồn nước uống phải đảm bảo sự trong lành, phải là nước sạch từ mạch chảy của các khe suối. Hệ thống ống nứa, thân cây đùng đình giúp bà con dẫn nước từ đầu nguồn về các thửa ruộng bậc thang và đến tận trong làng. Dòng nước trong mát tuôn chảy suốt ngày mang lại nguồn sống cho dân làng. Hàng ngày bà con mang quả bầu lấy nước về nấu ăn, uống. Trẻ con đến đây vui chơi, đùa nghịch và cùng nhau tắm táp thỏa thích dưới máng nước. Khởi đầu năm mới, bà con tập trung sửa chữa máng nước cũ hoặc bắc máng nước mới, gia cố hệ thống giá đỡ đường ống máng nước để đưa nước về buôn làng. Dân làng chia nhau đi kiếm cá, hái rau, gài bẫy bắt thú. Chủ làng cúng các thần linh cầu mong mưa thuận gió hòa, nương rẫy bội thu, cầu phúc cho các nó nhà. Đặc biệt, Lễ ăn trâu huê là tập tục văn hóa, tín ngưỡng quan trọng nhất hàng năm của người Xơ Đăng.

     Nước cũng là mạch nguồn sáng tạo văn hóa, nghệ thuật truyền thống tộc người. Rất nhiều truyền thuyết, truyện cổ, lời nói vần, luật tục... của người Xơ Đăng có liên quan đến suối nước, nguồn nước. Như các dân tộc khác, luật tục (tập quán pháp) của đồng bào đều có một số điều qui ước các thành viên trong làng không được xâm hại rừng đầu nguồn, giữ gìn nước sạch để sinh hoạt, không được xúc phạm đến thần sông thần suối. Một sáng tạo văn hóa đặc sắc của đồng bào Xơ Đăng trên sườn đồng và tây núi Ngọc Linh thuộc huyện Nam Trà My- Quảng Nam; Đăk Tô, Tu Mơ Rông -Kon Tum là cái đàn nước (hay còn gọi là đàn suối). Vật liệu chế tác đàn nước là nứa, lồ ô và các loại thân dây leo trong rừng như song mây. Đây là một nhạc cụ kết hợp nhiều bộ phận, nhờ kỹ thuật lắp ráp trở thành một “giàn nhạc”. Nguyên tắc chuyển động của đàn nước là “tự động hóa” nhờ vào sức nước, không có sự tác động trực tiếp của con người. Bộ phận quan trọng nhất làm nên sự chuyển động của “giàn nhạc” chính là sợi dây rừng dài, rắn chắc. Cùng với nó là hai thanh tre lớn đặt song song nhau dọc theo sợi dây rừng có vai trò liên kết với các ống tre nằm ngang dọc, các ống nứa đặc ruột hay loại ống nứa được khoét gọt để tạo âm thanh. Sợi dây rừng được nối từ máng nước đặt dưới lòng suối đến vị trí đặt đàn nước. Một đầu dây được mắc vào hòn đá lớn, đầu dây kia mắc vào máng nước. Để lợi dụng sức nước từ khe núi hay từ dòng thác đổ xuống, đồng bào bố trí máng nước ngay phía bên dưới để hứng. Khi máng nước đầy, sợi dây kéo chùng xuống làm cho máng nước chuyển dời khỏi thác nước. Lúc đó, máng nước nghiêng xuống, đổ hết nước ra bên ngoài, trọng lượng hòn đá ở đầu kia lại kéo dây chùng xuống, làm sợi dây chuyển động kéo máng nước trở về vị trí cũ. Nhờ sự chuyển động đó mà các thanh tre nứa va chạm vào nhau tạo âm thanh nhạc điệu. Quy mô của đàn nước tùy thuộc vào người chế tác. Muốn nhiều âm thanh thì người chế tác chỉ cần nối những cây nứa dài ra, có thể đến vài ba chục mét. Mỗi ống nứa là một âm thanh, cung bậc khác nhau, cùng cất lên một điệu nhạc trong trẻo, lảnh lót hòa âm cùng với tiếng gió reo, chim hót, suối chảy giữa đại ngàn. Âm thanh của tiếng đàn nước lại có tác dụng canh giữ thú rừng phá hoại lúa, hoa màu đang chờ thu hoạch, người nghe vui tai càng thêm niềm hứng thú, bớt mệt nhọc khi lao động trên nương rẫy.

     Núi Ngọc Linh hùng vĩ, địa danh nổi tiếng của vùng cao xứ Quảng, nơi bắt nguồn dòng sông mẹ Thu Bồn. Trước khi chảy về vùng hạ lưu tưới mát cho đồng lúa nương dâu, nước nguồn Ngọc Linh ươm mầm, nuôi dưỡng, tạo nên sức sống cho thiên nhiên núi rừng và di sản nhân văn của người Xơ Đăng, chủ nhân sinh sống trên đỉnh núi thiêng.

Tác giả bài viết: Tấn Vịnh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây