Đi tìm dấu tích kinh thành Indrapura

Thứ sáu - 29/05/2020 10:13
Phật viện Đồng Dương trước năm 1942
Phật viện Đồng Dương trước năm 1942

     Trước đây, nhiều người nghĩ rằng kinh thành Indrapura là di tích Đồng Dương, huyện Thăng Bình; tuy nhiên trong những năm qua đã có những phát hiện khảo cổ học cho thấy kinh thành Indrapura và Phật viện Đồng Dương là hai khu vực khác nhau.

Tượng thần Brahma Phú HưngTượng thần Brahma Phú Hưng

     Theo nội dung tấm bia tìm thấy ở Đồng Dương, năm 875, vua Indravarman II đã cho xây dựng một tu viện Phật giáo và đền thờ vị Bồ tát bảo hộ cho vương triều là Laksmindra Lôkesvara Svabhayada. Dưới triều đại này, kinh đô của vương quốc Champa được dời từ vùng Panduranga ra vùng Amaravati. Văn bia cho biết tên của kinh đô mới là Indrapura. Năm 1902, H. Parmentier đã khai quật di tích Đồng Dương, ông đã tìm thấy khu kiến trúc chính của Phật viện cùng với nhiều tác phẩm điêu khắc quý giá. Theo khảo tả của H. Parmentier, toàn bộ khu đền thờ chính và các tháp phân bố trên một trục từ Tây sang Đông, dài khoảng 1.300m. Khu đền thờ chính nằm trong một khu vực hình chữ nhật, dài 326m, rộng 155m, chung quanh có tường gạch bao bọc, từ khu đền chính có một con đường dài khoảng 760m, chạy về phía đông đến một thung lũng hình chữ nhật. Khu đền thờ chính gồm có 3 nhóm kiến trúc kéo dài theo trục đông - tây, được phân cách nhau bởi những bờ tường xây bằng gạch:

- Nhóm phía đông: chỉ còn lại dấu vết nền móng của khu nhà dài mà các nhà nghiên cứu cho là tu viện Phật giáo (Vihara). Ở đây có một bệ thờ lớn bằng sa thạch, được chạm trổ nhiều hình người và hoa văn rất tinh tế. Trong khu vực này còn tìm thấy nhiều tượng Dharmapala.

- Nhóm giữa: chỉ còn lại dấu vết các chân tường, các bậc thềm của một ngôi nhà dài theo trục Đông Tây. Ở đây có 4 pho tượng Hộ pháp (Dvarapala) khá lớn, cao khoảng 2m.

- Nhóm phía tây: gồm các đền thờ chính và các tháp phụ chung quanh, đền thờ này thuộc loại tháp truyền thống của kiến trúc Champa, quanh các mặt tường có trụ ốp tường được chạm những dải hoa văn cành lá cách điệu rậm rịt và xoắn xít như hình vết sâu bò, đó là loại hoa văn đặc trưng của phong cách Đồng Dương. Trong đền thờ có một bệ thờ lớn bằng sa thạch, chạm trổ những cảnh sinh hoạt trong cung đình, một số trích đoạn về cuộc đời Phật Thích Ca. Năm 1978, nhân dân địa phương đã đào được một pho tượng Bodhisattva (Bồ Tát) bằng đồng thau, cao 114cm, ở gần khu đền thờ chính. Theo các nhà nghiên cứu, đây là pho tượng Bồ tát Laksmindra Lokesvara được đặt trên bệ thờ của đền thờ chính. Những tác phẩm điêu khắc của thời kỳ này đã hình thành phong cách Đồng Dương nổi tiếng trong nghệ thuật Champa từ giữa đến cuối thế kỷ IX.

     Tháng 9/1996, Viện Khảo cổ học Việt Nam, trường Đại học Quốc gia Hà Nội và Bảo tàng Quảng Nam - Đà Nẵng phối hợp đào thám sát tại làng Đồng Dương. Là người trực tiếp tham gia, chúng tôi nhận thấy lớp đất canh tác dày khoảng 40-50 cm, bên dưới là đá ong, do vậy tầng văn hóa chỉ dày khoảng 30cm, di vật trong tầng văn hóa thưa thớt, chỉ có một số mảnh gốm Champa, mảnh gốm sứ Việt, Trung Hoa, còn lại phần lớn là gạch ngói Chăm, như vậy ngoài những vật liệu kiến trúc của khu Phật viện, dấu vết cư trú của con người thời kỳ vương quốc Champa tại làng Đồng Dương không nhiều, vì khí hậu rất khắc nghiệt, đất đai khô cằn, đây không phải là nơi thuận tiện để xây dựng kinh đô. Có thể nói di tích Đồng Dương chỉ thuần túy là khu đền thờ gắn với tu viện Phật giáo của vương quốc Champa, còn kinh thành Indrapura là một khu vực rộng lớn hơn, có điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng thuận lợi cho đời sống dân cư.

     Ngoài những dấu tích Champa ở vùng Hương Quế (Quế Sơn) và phía đông Phật viện Đồng Dương, ở phía nam có nhóm tháp Chiên Đàn (huyện Phú Ninh), di tích gồm có 3 tháp xếp thành một hàng theo trục bắc- nam. Trong đợt trùng tu di tích vào năm 1989, các nhà khảo cổ đã khai quật quanh các tháp, làm lộ ra hệ thống chân tường và các trang trí chân tường bằng sa thạch cùng với hàng trăm tác phẩm điêu khắc có giá trị. Cuối năm 2000, chúng tôi đã khai quật phát lộ được một phế tích kiến trúc bằng gạch hình chữ nhật cùng với trên 90 tác phẩm điêu khắc bằng sa thạch, gồm tượng người, động vật và đồ trang trí kiến trúc... Đa số các nhà nghiên cứu đã sắp xếp các tác phẩm ở Chiên Đàn vào phong cách Chánh Lộ, thế kỷ XI-đầu thế kỷ XII.

     Cách nhóm tháp Chiên Đàn khoảng 700m về phía nam có phế tích An Phú, hình dạng gần giống như các mandapa ở Mỹ Sơn, hai di tích nằm trên cùng một trục bắc-nam, gần như thẳng hàng. Theo nhân dân địa phương, trước đây khi làm ruộng, người ta đã nhìn thấy những đoạn đường bằng gạch kéo dài về phía tháp Chiên Đàn, như vậy có nhiều khả năng phế tích An Phú là một công trình kiến trúc nằm trong nhóm tháp Chiên Đàn.

     Cách nhóm tháp Chiên Đàn khoảng 1,5 km về phía tây-nam, tại khu vực làng An Mỹ có một phế tích, nền gạch phân bố thành nhiều cụm, tại đây có một bàn thờ Linga-Yoni rất lớn, toàn bộ bàn thờ cao 270cm, Linga cao 170cm, đường kính 58cm. Theo các nhà nghiên cứu, đây là một trong những bệ thờ Linga-Yoni lớn nhất của nghệ thuật Champa. Dấu tích để lại cho thấy An Mỹ là một khu tháp lớn tồn tại qua nhiều thế kỷ. Các tác phẩm điêu khắc có giá trị đã được phát hiện gồm: Bức Tympan thần Laksmi ngồi xếp bằng trên bệ hoa sen, niên đại khoảng thế kỷ XI. Bốn tượng thần canh giữ phương hướng: Isana, Brahma, Indra và Agni cưỡi; bốn pho tượng này có niên đại khoảng thế kỷ X. Đáng chú ý nhất là 3 bức phù điêu bán thân của 1 nam thần và 2 nữ thần được chạm trên 3 phiến đá hình vuông. Ba bức phù điêu này chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Môn-Dvaravati (một nền nghệ thuật của Thái Lan từ thế kỷ VI-XI), đồng thời mang những yếu tố của nghệ thuật Chăm giai đoạn Đồng Dương như gương mặt vuông, cánh mũi rộng, đôi môi dày, mũ có trang trí 3 đóa hoa lớn, niên đại của 3 bức phù điêu này vào khoảng cuối thế kỷ VIII-đầu thế kỷ IX. Ngoài ra, lân cận nhóm tháp Chiên Đàn và phế tích An Mỹ còn có các phế tích Bà Huỳnh, phế tích Rừng Miếu, phế tích Rừng É... Các phế tích này chưa được nghiên cứu nhiều.

     Xa hơn về phía nam, trên địa bàn huyện Núi Thành có nhóm tháp Khương Mỹ thuộc xã Tam Xuân I, gồm 3 ngôi tháp chính xếp thẳng hàng theo trục bắc - nam, nhóm tháp còn khá nguyên vẹn với nhiều hoa văn trang trí dọc trên tường tháp. Theo Ph. Stern, tại Khương Mỹ, lần đầu tiên trong kiến trúc Champa xuất hiện một số mô-típ trong nghệ thuật Khmer cuối thế kỷ IX-đầu thế kỷ X. Từ năm 2000 đến 2008, sau các cuộc thám sát và khai quật, chúng tôi đã tìm thấy 124 hiện vật, gồm có các loại phù điêu, tượng người; tượng động vật như rắn Naga, khỉ, ngựa, voi; các loại trang trí chân tường, trang trí góc tháp; chóp tháp... Đặc biệt quanh chân tháp Nam có 17 khối sa thạch được điêu khắc một số cảnh sinh hoạt của loài khỉ, dường như là trích đoạn của trường ca Ramayana.

     Cách nhóm tháp Khương Mỹ khoảng 1 km về phía Đông Nam có một nhóm tháp lớn đã sụp đổ từ lâu, là phế tích Phú Hưng. Vào những năm đầu của thế kỷ XX, người Pháp đã tìm thấy một số tác phẩm điêu khắc... Sau năm 1975, nhiều hiện vật khác được tiếp tục phát hiện gồm tượng thờ, vật trang trí kiến trúc... Năm 1994, nhân dân địa phương lại tìm thấy những tác phẩm điêu khắc có giá trị: Tympan chạm thần Vishnu, tượng nữ thần Laksmi, tympan thần Brahma, tượng voi. Những tác phẩm điêu khắc tìm thấy ở Phú Hưng được xếp vào giai đoạn đầu của phong cách Mỹ Sơn A1, có niên đại khoảng đầu đến giữa thế kỷ X. Ở Phú Hưng, ngoài đền thờ chính rất lớn, còn có 2-3 công trình phụ nhỏ.

     Qua dấu tích của hàng chục công trình, cụm kiến trúc ở vùng lân cận Phật viện Đồng Dương có thể thấy vùng đất Phú Ninh, Tam Kỳ, Núi Thành tập trung nhiều đền tháp quy mô lớn có niên đại từ khoảng cuối thế kỷ VIII đến thế kỷ XI, mà tập trung là giai đoạn thế kỷ IX – XI, cùng thời kỳ trị vì của vương triều Indrapura. Khi xác định Phật viện Đồng Dương là thánh địa Phật giáo của vương triều Indrapura, chắc hẳn kinh thành phải nằm ở phía đông Phật viện, đáng tiếc là cho đến nay vẫn chưa tìm thấy hệ thống thành lũy của Indrapura, chỉ có dấu vết của một số phế tích mà có người cho là những tháp canh của kinh đô.

     Nhà giáo Lê Thí cho rằng Ly Ly là dòng sông nối liền Phật viện Đồng Dương, hoàng cung với cảng thị Hội An và Cù Lao Chàm, và Đồng Dương trở thành đỉnh của một tam giác giao thông với 2 thương cảng cổ trù phú của châu Amaravarti xưa (Cửa Đại và Cửa An Hòa). Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ rằng cần có nhiều cuộc khảo sát trên vùng đất đông Quế Sơn, nam Thăng Bình, Phú Ninh, Tam Kỳ, Núi Thành để tìm địa điểm của kinh thành Indrapura, cùng hệ thống phòng thủ, cung điện, đền đài... Khu vực đồng bằng đông Quế Sơn, Núi Thành đất đai tươi tốt có thể cung cấp đủ nông sản cho dân cư kinh thành Indrapura; nguồn Chiên Đàn ở phía tây (Tiên Phước, Trà My ngày nay) cung cấp các sản vật rừng cho vùng đồng bằng, đáp ứng nhu cầu sử dụng và xuất khẩu của vương triều Champa. Hệ thống sông suối như sông Ly Ly, sông Tam Kỳ, suối Trà Thai, suối Nhà Ngù, suối Ngọc Khô đều chảy vào dòng Trường Giang - con đường thủy huyết mạch của Quảng Nam trong nhiều thế kỷ, nối liền Cửa Đại và Cửa An Hòa là thủy lộ quan trọng để vận tải hàng hóa cùng hoạt động quân sự của thủy quân Champa…

Tác giả bài viết: Hỗ Xuân Tịnh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây